Những bài thơ mà Nam Trân dịch của Hồ Chí Minh luôn được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao bởi đây là một trong những tập đòi hỏi yêu cầu rất khắt khe và chỉ những nhà thơ nào thật sự am hiểu về thơ mới có thể dịch được. Đây là một tập thơ giá trị, hiếm có của nền văn học nước nhà. Ông được rất nhiều người hâm mộ và thán phục trước ngòi bút của mình. Dưới đây sẽ là những thi phẩm của ông!

Đăng quang phí 燈光費 • Tiền đèn

入籠要納燈光费,
桂幣人人各六元。
步入朦朧幽暗地,
光明值得六元錢。

Đăng quang phí

Nhập lung yếu nạp đăng quang phí,
Quế tệ nhân nhân các lục nguyên;
Bộ nhập mông lung u ám địa,
Quang minh trị đắc lục nguyên tiền!

Dịch nghĩa

Vào tù phải nộp khoản tiền đèn,
Tiền Quảng Tây mỗi người sáu đồng;
Bước vào nơi tối tăm mù mịt,
Sự quang minh đáng giá có sáu đồng.

Dịch

Vào lao phải nộp khoản tiền đèn,
Tiền Quảng Tây vừa đúng sáu “nguyên”;
Vào chỗ tối tăm mù mịt ấy,
Quang minh đáng giá bấy nhiêu tiền.

Điệt lạc 跌洛 • Hụt chân ngã

夜仍黑暗已登程,
路又崎嶇甚不平。
跌入深坑危險甚,
幸能躍出了深坑。

Điệt lạc

Dạ nhưng hắc ám dĩ đăng trình,
Lộ hựu kỳ khu thậm bất bình.
Điệt nhập thâm khanh nguy hiểm thậm,
Hạnh năng dược xuất liễu thâm khanh.

Dịch nghĩa

Đêm còn tối mịt đã phải lên đường,
Đường lại gồ ghề, không chút bằng phẳng;
Hụt chân thụt xuống hố sâu, nguy hiểm quá,
May sao đã nhảy được ra khỏi hố.

Dịch

Còn tối như bưng đã phải đi,
Đường đi khúc khuỷu lại gồ ghề;
Trượt chân nhỡ bước sa vào hố,
May nhảy ra ngoài, suýt nữa nguy!

Đổ 賭 • Đánh bạc

民間賭博被官拉,
獄裡賭博可公開。
被拉賭犯常嗟悔,
何不先到這裡來。

Đổ

Dân gian đổ bác bị quan lạp,
Ngục lý đổ bác khả công khai.
Bị lạp đổ phạm thường ta hối,
Hà bất tiên đáo giá lý lai!

Dịch nghĩa

Ngoài dân đánh bạc thì bị quan bắt,
Trong tù đánh bạc có thể công khai;
Con bạc bị tù thường hối tiếc:
Sao không sớm vào quách chốn này!?

Dịch

Đánh bạc ở ngoài, quan bắt tội,
Trong tù đánh bạc được công khai;
Bị tù, con bạc ăn năn mãi:
Sao trước không vô quách chốn này!

Đối nguyệt 對月 • Đối trăng

窗外月明籠古樹,
月移樹影到窗前。
軍機國計商談了,
攜枕窗旁對月眠。

Đối nguyệt

Song ngoại nguyệt minh lung cổ thụ,
Nguyệt di thụ ảnh đáo song tiền,
Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,
Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.

Dịch nghĩa

Ngoài cửa sổ ánh trăng lồng trên cây cổ thụ,
Ánh trăng nhích dần bóng cổ thụ lại trước cửa sổ.
Việc quân, việc nước bàn bạc xong rồi,
Xách gối đến bên cửa sổ, nằm ngủ trước ánh trăng.

Dịch

Ngoài song, trăng rọi cây sân,
Ánh trăng nhích bóng cây gần trước song.
Việc quân, việc nước bàn xong,
Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.

Hựu nhất cá 又一個 • Lại một người nữa

夷齊不食周朝粟,
賭犯不吃公家粥。
夷齊餓死首陽山,
賭犯餓死公家獄。

Hựu nhất cá

Di, Tề bất thực Chu triều túc,
Đổ phạm bất ngật công gia chúc.
Di, Tề ngã tử Thú Dương sơn,
Đổ phạm ngã tử công gia ngục.

Dịch nghĩa

Bá Di, Thúc Tề không ăn thóc nhà Chu,
Người tù cờ bạc không ăn cháo nhà nước;
Bá Di, Thúc Tề chết đói trên núi Thú Dương,
Người tù cờ bạc chết đói trong ngục nhà nước.

Dịch

Di, Tề chẳng ăn gạo nhà Chu,
Tù bạc chẳng ăn cháo nhà nước;
Di, Tề chết đói ngàn Thú Dương,
Tù bạc chết đói trong nhà ngục.

Khai quyển 開卷

老夫原不愛吟詩,
因為囚中無所為。
聊借吟詩消永日,
且吟且待自由時。

Khai quyển

Lão phu nguyên bất ái ngâm thi,
Nhân vị tù trung vô sở vi.
Liêu tá ngâm thi tiêu vĩnh nhật,
Thả ngâm thả đãi tự do thì.

Dịch nghĩa

Già này vốn không thích ngâm thơ,
Nhân vì trong ngục không có gì làm.
Hãy mượn việc ngâm thơ cho qua ngày dài,
Vừa ngâm vừa đợi ngày tự do.

Dịch

Ngâm thơ ta vốn không ham,
Nhưng vì trong ngục biết làm chi đây;
Ngày dài ngâm đợi cho khuây,
Vừa ngâm vừa đợi đến ngày tự do.

Ký Nê Lỗ 寄尼魯 • Gửi Nehru

我奮鬥的君活動,
君入獄的我住籠。
萬里遥遥未见面,
神交自在不言中。
我們遭逢本是同,
不同的是所遭逢。
我居友者圈囹裡,
君在仇人梏桎中。

Ký Nê Lỗ

Ngã phấn đấu thì quân hoạt động,
Quân nhập ngục thì ngã trú lung;
Vạn lý dao dao vị kiến diện,
Thần giao tự tại bất ngôn trung.
Ngã môn tao phùng bản thị đồng,
Bất đồng đích thị sở tao phùng;
Ngã cư hữu giả quyền linh lý,
Quân tại cừu nhân cốc trất trung.

Dịch nghĩa

Lúc tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Lúc anh vào ngục, tôi ngồi tù;
Muôn dặm xa xôi, chưa từng gặp mặt,
Nhưng mối giao cảm sâu xa đã sẵn trong chỗ không lời.
Cảnh ngộ của chúng ta vốn giống nhau,
Nhưng không giống nhau lại cũng là ở cảnh ngộ;
Tôi, trong nhà tù của người bè bạn,
Còn anh, trong xiềng xích của kẻ thù.

Dịch

Khi tôi phấn đấu, anh hoạt động,
Anh phải vào lao, tôi ở tù;
Muôn dặm xa với chưa gặp mặt,
Không lời mà vẫn cảm thông nhau.
Đôi ta cảnh ngộ vốn không khác,
Cảnh ngộ giờ đây khác bội phần;
Tôi, chốn lao tù người bạn hữu,
Anh, trong gông xích bọn cừu nhân.

Lai Tân 來賓 • Lai Tân

監房班長天天賭,
警長貪吞解犯錢。
縣長燒燈辨公事,
來賓依舊太平天。

Lai Tân

Giam phòng Ban trưởng thiên thiên đổ,
Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền;
Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự,
Lai Tân y cựu thái bình thiên.

Dịch nghĩa

Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc,
Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải;
Huyện trưởng chong đèn làm việc công,
Lai Tân vẫn thái bình như xưa.

Dịch

Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,
Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh;
Chong đèn, huyện trưởng làm công việc,
Trời đất Lai Tân vẫn thái bình.

Long An Lưu Sở trưởng 隆安劉所長

辯事認真劉所長,
人人讚誦你公平。
文錢粒米都公布,
乾凈囚籠好衛生。

Long An Lưu Sở trưởng

Biện sự nhận chân Lưu Sở trưởng
Nhân nhân tán tụng nhĩ công bình
Văn tiền lạp mễ đô công bố
Can tịnh tù lung hảo vệ sinh.

Dịch nghĩa

Sở trưởng họ Lưu giải quyết công việc thận trọng, đúng đắn,
Mọi người đều khen ông công bằng;
Đồng tiền, hạt gạo đều công bố,
Nhà lao sạch sẽ hợp vệ sinh.

Dịch

Làm việc đúng thay Lưu Sở trưởng,
Ai ai cũng bảo bác công bình;
Đồng tiền, bát gạo đều công bố,
Sạch sẽ, lao tù rất vệ sinh.

Lộ thượng 路上

脛臂雖然被緊綁,
滿山鳥語與花香。
自由覽賞無人禁,
賴此征途減寂涼。

Lộ thượng

Hĩnh tí tuy nhiên bị khẩn bang
Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương
Tự do lãm thưởng vô nhân cấm
Lại thử chinh đồ giảm tịch lương.

Dịch nghĩa

Mặc dù chân tay bị trói chặt,
Nhưng đầy núi chim hót và hoa thơm;
Tự do thưởng ngoạn, không ai cấm được,
Nhờ thế, đường xa cũng bớt quạnh hiu.

Dịch

Mặc dù bị trói chân tay,
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng;
Vui say, ai cấm ta đừng,
Đường xa, âu cũng bớt chừng quạnh hiu.

Mạc ban trưởng 莫班長

慷慨賓陽莫班長,
解囊買飯給囚人。
晚間解縛給他睡,
不用威權只用恩。

Mạc ban trưởng

Khảng khái Tân Dương, Mạc ban trưởng,
Giải nang mãi phạn cấp tù nhân;
Vãn gian giải phược cấp tha thụy,
Bất dụng uy quyền, chỉ dụng ân.

Dịch nghĩa

Hào hiệp thay, trưởng ban họ Mạc ở Tân Dương,
Bỏ tiền túi mua cơm cho tù nhân;
Tối đến cởi trói cho họ ngủ,
Không dùng uy quyền, chỉ dùng ân nghĩa.

Dịch

Trưởng ban họ Mạc người hào hiệp,
Dốc túi mua cơm giúp phạm nhân;
Đêm đến cởi thừng cho họ ngủ,
Chẳng dùng quyền thế, chỉ dùng ân.

Lữ quán 旅館 •

照例初來諸難友,
必須睡在廁坑邊。
假如你想好好睡,
你要多花几塊錢。

Lữ quán

Chiếu lệ sơ lai chư nạn hữu
Tất tu thụy tại xí khanh biên;
Giả như nhĩ tưởng hảo hảo thụy,
Nhĩ yếu đa hoa kỷ khối tiền.

Dịch nghĩa

Theo lệ, các bạn tù mới đến,
Ắt phải ngủ cạnh hố xí;
Nếu anh muốn được ngủ ngon giấc,
Anh phải tốn thêm mấy đồng bạc.

Dịch

Lệ thường tù mới đến,
Phải nằm cạnh cầu tiêu;
Muốn ngủ cho ngon giấc,
Anh phải trả tiền nhiều.

Mộ 暮 • Chiều tối

倦鳥歸林尋宿樹,
孤雲慢慢度天空。
山村少女磨包粟,
包粟磨完爐已烘。

Mộ

Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ,
Cô vân mạn mạn độ thiên không.
Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc,
Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng.

Dịch nghĩa

Chim mỏi về rừng tìm cây ngủ,
Chòm mây lẻ trôi lững lờ trên tầng không;
Thiếu nữ xóm núi xay ngô,
Ngô xay vừa xong, lò than đã đỏ.

Dịch

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ,
Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không;
Cô em xóm núi xay ngô tối,
Xay hết, lò than đã rực hồng.

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

久閑兩腳軟如綿,
今試行行屢欲顛。
片刻已聞班長喊,
返來不准再遲延。

Mông thượng lệnh chuẩn xuất lung hoạt động

Cửu nhàn lưỡng cước nhuyễn như miên,
Kim thí hành hành lũ dục điên;
Phiến khắc dĩ văn Ban trưởng hám:
“Phản lai, bất chuẩn tái trì diên”.

Dịch nghĩa

Nhàn rỗi lâu ngày, hai chân mềm như bông,
Nay mới đi thử vài bước đã lảo đảo mấy lần chực ngã;
Chốc lát đã nghe Ban trưởng quát:
“Quay lại! Không được rềnh ràng nữa!”.

Dịch

Nghỉ lâu, chân tựa bông mềm nhũn,
Đi thử, hôm nay muốn ngã quay;
Chốc lát đã nghe ban trưởng quát:
“Không rềnh ràng nữa, phải vào ngay!”

Nam Ninh ngục 南寧獄

監房建築頂摩登,
澈夜輝煌照電燈。
因為每餐惟有粥,
使人肚子戰兢兢。

Nam Ninh ngục

Giam phòng kiến trúc đính “ma-đăng”,
Triệt dạ huy hoàng chiếu điện đăng.
Nhân vị mỗi xan duy hữu chúc,
Sử nhân đỗ tử chiến căng căng.

Dịch nghĩa

Nhà lao xây dựng rất “môđéc”,
Suốt đêm đèn điện sáng rực;
Nhưng vì bữa ăn nào cũng chỉ có cháo,
Khiến cho bụng người ta cứ run bần bật.

Dịch

Nhà lao xây dựng kiểu tân thời,
Đèn điện thâu đêm sáng rực trời;
Nhưng mỗi bữa ăn lưng bát cháo,
Cho nên cái bụng cứ rên hoài.

Trên đây là những bài thơ dịch hấp dẫn của nhà thơ Nam Trân. Hy vọng các bạn sẽ yêu thích phong cách thơ của ông cũng như bài viết này của chúng tôi.