Tô Đông Pha tên thật là Tô Thức, tự là Tử Chiêm, hiệu Đông Pha cư sĩ, sinh ngày 8 tháng 1 năm 1037 tại Mi Sơn, tỉnh Tứ Xuyên, mất ngày 24 tháng 8 năm 1101 tại Thường Châu. Tô Đông Pha là một nhà văn Trung Quốc, nhà thơ, chính khách nhân cách lớn thời Tống, nhà phật học, thư pháp, họa sĩ, dược học.

Ông là người có tư tưởng rất thông thái và ông cũng chính là người rất mâu thuẫn. Cuộc đời của ông cũng nhiều biến cố và thăng trầm. Có những khi làm đến nhiều chức sắc quan trọng nhưng cũng có giai đoạn sống tịch mịch, già cả mà vất vả. Tuy nhiên ông rất lạc quan, và ông cũng đã thể hiện được điều đó trong chính những bài thơ của mình.

Dưới đây, tapchivannghe.com sẽ tiếp tục giới thiệu đến các bạn những bài thơ hay nhất của Tô Đông Pha đừng bỏ lỡ bạn nhé!

My Ổ

郿塢
衣中厚甲行何懼,
塢里金多退足憑。
畢更英雄誰得似,
臍脂自照不須燈。

My Ổ
Y trung hậu giáp hành hà cụ,
Ổ lý kim đa thoái túc bằng.
Tất cánh anh hùng thuỳ đắc tự,
Tễ chi tự chiếu bất tu đăng.

Dịch nghĩa
Bên trong áo bào có giáp dầy sợ gì,
Trong My Ổ nhiều vàng lui có thể dựa.
Cuối cùng anh hùng đã ai giống được thế?
Mỡ rốn tự chiếu sáng không cần đèn!

Ngô trung điền phụ thán

吳中田婦歎
今年粳稻熟苦遲,
庶見霜風來幾時。
霜風來時雨如瀉,
杷頭出菌鐮生衣。
眼枯淚盡雨不盡,
忍見黃穗臥青泥。
茅苫一月隴上宿,
天晴穫稻隨車歸。
汗流肩赬載入市,
價賤乞與如糠粞。
賣牛納稅拆屋炊,
慮淺不及明年飢。
官今要錢不要米,
西北萬里招羌兒。
龔黃滿朝人更苦,
不知卻作河伯婦。

Ngô trung điền phụ thán
Kim niên canh đạo thục khổ trì,
Thứ kiến sương phong lai kỷ thì.
Sương phong lai thì vũ như tả,
Ba đầu xuất khuẩn liêm sinh y.
Nhãn khô lệ tận vũ bất tận,
Nhẫn kiến hoàng tuệ ngoạ thanh nê.
Mao thiêm nhất nguyệt lũng thượng túc,
Thiên tình hoạch đạo tuỳ xa quy.
Hãn lưu kiên trinh tải nhập thị,
Giá tiện khất dữ như khang tê.
Mại ngưu nạp thuế sách ốc xuy,
Lự thiển bất cập minh niên cơ.
Quan kim yêu tiền bất yêu mễ,
Tây bắc vạn lý chiêu khương nhi.
Củng, Hoàng mãn triều nhân cánh khổ,
Bất tri khước tác hà bá phụ.

Ngụ cư Định Tuệ viện chi đông tạp hoa mãn sơn hữu hải đường

寓居定慧院之東雜花滿山有海棠
江城地瘴蕃草木,
只有名花苦幽獨。
嫣然一笑竹籬間,
桃李滿山總粗俗。
也知造物有深意,
故遣佳人在空穀。
自然富貴出天姿,
不待金盤薦華屋。
朱唇得酒暈生臉,
翠袖卷紗紅映肉。
林深霧暗曉光遲,
日暖風輕春睡足。
雨中有淚亦凄愴,
月下無人更清淑。
先生食飽無一事,
散步逍遙自捫腹。
不問人家與僧捨,
拄杖敲門看修竹。
忽逢絕艷照衰朽,
嘆息無言揩病目。
陋邦何處得此花,
無乃好事移西蜀。
寸根千里不易到,
銜子飛來定鴻鵠。
天涯流落俱可念,
為飲一樽歌此曲。
明朝酒醒還獨來,
雪落紛紛哪忍觸。

Ngụ cư Định Tuệ viện chi đông tạp hoa mãn sơn hữu hải đường
Giang Thành địa chướng phiền thảo mộc,
Chỉ hữu danh hoa khổ u độc.
Yên nhiên nhất tiếu trúc ly gian,
Đào lý mãn sơn tổng thô tục.
Dã tri tạo vật hữu thâm ý,
Cố khiển giai nhân tại không cốc.
Tự nhiên phú quý xuất thiên tư,
Bất đãi kim bàn tiến hoa ốc.
Châu thần đắc tửu vựng sinh kiểm,
Thuý tụ quyển sa hồng ánh nhục.
Lâm thâm vụ ám hiểu quang trì,
Nhật noãn phong khinh xuân thuỵ túc.
Vũ trung hữu lệ diệc thê sảng,
Nguyệt hạ vô nhân canh thanh thục.
Tiên sinh thực bão vô nhất sự,
Tán bộ tiêu dao tự môn phúc.
Bất vấn nhân gia dữ tăng xá,
Trụ trượng xao môn khán tu trúc.
Hốt phùng tuyệt diễm chiếu suy hủ,
Thán tức vô ngôn khai bệnh mục.
Lậu bang hà xứ đắc thử hoa,
Vô nãi hảo sự di Tây Thục.
Thốn căn thiên lý bất dị đáo,
Hàm tử phi lai định hồng hộc.
Thiên nhai lưu lạc câu khả niệm,
Vị ẩm nhất tôn ca thử khúc.
Minh triêu tửu tỉnh hoàn độc lai,
Tuyết lạc phân phân na nhẫn xúc.

Dịch nghĩa
Đất Giang Thành nhiều chướng khí nên nhiều cây cỏ hoang dại,
Chỉ có một loại danh hoa, cây hải đường, mọc chen lấn giữa đó, nằm lẻ loi buồn tẻ.
Một khi nó nhởn nhơ hé nụ nơi hàng dậu,
Thì tất cả đào, lý khắp một vùng núi này thảy là thô tục.
Thế nên mới biết tạo vật có thâm ý,
Nên khiến cho loài hoa quý đó lánh mình nơi hang hốc vắng vẻ.
Cái cốt cách cao sang của nó vốn là trời cho tự nhiên vậy,
Không phải đợi có mâm vàng dâng vào cửa nhà sang cả mới thành quý.
Nụ hồng tươi như say men rượu ửng lên đôi má,
Tàn lá như cánh tay áo màu xanh thẳm vén lên giải lụa để lộ thịt da ánh hồng.
Sa mù phủ mờ cả khu rừng dày chằng chịt nên nắng mai lên trễ,
Mặt trời ấm, gió nhẹ, giấc ngủ mùa xuân rất thoải mái.
Lúc mưa, trong cơn mưa những giọt nước đọng long lanh trông cũng khá sầu muộn,
Lúc có trăng, dưới trăng vắng bóng người, trông lại càng yểu điệu cao sang.
Tiên sinh ăn một bữa no, không một việc làm,
Ông thả bước tiêu dao, tự sờ tay vào bụng của mình.
Không cần hỏi đó là nhà của người tục hay của sư tăng,
Chống gậy đến gõ cửa xem hàng tre đứng thẳng.
Bỗng gặp một vẻ tuyệt diễm bừng lên giữa hàng giậu đổ nát,
Ông than thở không nói một lời, nhướng con mắt mờ kém lên:
Đất quê này sao lại có thứ hoa này?
Há không phải do người hiếu sự mang nó từ đất Tây Thục đến?
Nhưng tấc rễ ngắn của nó không dễ gì mang đi xa xôi như vậy nổi,
Có lẽ chim hồng hay chim hộc ngậm hạt của nó mang đến đây.
Cũng đáng ngậm ngùi cho nó lưu lạc tận ven trời xa xôi này,
Nên vì thay nó mà uống một chén và ca một khúc ca đó.
Sáng hôm sau, tỉnh rượu lại, đến đây một mình,
Thấy tuyết bay phơi phới, tưởng chừng như không nỡ đụng đến nó

Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kỳ 1

獄中寄子由二首其一
聖主如天萬物春,
小臣愚暗自亡身。
百年未滿先償債,
十口無歸更累人。
是處青山可埋骨,
他年夜雨獨傷神。
與君世世為兄弟,
又結來生未了因。

Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kỳ 1
Thánh chủ như thiên vạn vật xuân,
Tiểu thần ngu ám tự vong thân.
Bách niên vị mãn tiên thường trái,
Thập khẩu vô quy cánh luỹ nhân.
Thị xứ thanh sơn khả mai cốt,
Tha niên dạ vũ độc thương thần.
Dữ quân thế thế vi huynh đệ,
Hựu kết lai sinh vị liễu nhân

Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kỳ 2

獄中寄子由二首其二
柏台霜氣夜淒淒,
風動琅璫月向低。
夢繞雲山心似鹿,
魂飛湯火命如雞。
眼中犀角真吾子,
身後牛衣愧老妻。
百歲神遊定何處,
桐鄉知葬浙江西。

Ngục trung ký Tử Do nhị thủ kỳ 2
Bách đài sương khí dạ thê thê,
Phong động lang đang nguyệt hướng đê.
Mộng nhiễu vân san tâm tự lộc,
Hồn kinh thang hoả mệnh như kê.
Nhãn trung tê giác chân ngô tử,
Thân hậu ngưu y quý lão thê.
Bách tuế thần du hà xứ định,
Đồng Hương tri tráng Chiết Giang tê.

Dịch nghĩa
Hơi sương đêm ở Bách đài buồn lạnh lẽo
Vòng xích động leng keng ánh trăng xế tà
Trong mơ, được về quê hương, lòng thấp thỏm không yên,
Hồn sợ nước sôi lửa bỏng mạng sống như gà
Mắt nhìn thấy tướng mạo của con cũng không tục
Sau khi chết mặc áo trâu thẹn với vợ già
Khi trăm tuổi thần về đâu là định
Dân Đồng hương biết táng ta ở Tây Chiết Giang.

Pháp Huệ tự Hoành Thuý các

法惠寺橫翠閣
朝見吳山橫,
暮見吳山縱。
吳山故多態,
轉側為君容。
幽人起朱閣,
空洞更無物。
惟有千步岡,
東西作簾額。
春來故國歸無期,
人言悲秋春更悲。
已泛平湖思濯錦,
更看橫翠憶峨眉。
雕欄能得幾時好,
不獨憑欄人易老。
百年興廢更堪哀,
懸知草莽化池臺。
遊人尋我舊遊處,
但覓吳山橫處來。

Pháp Huệ tự Hoành Thuý các
Triêu kiến Ngô sơn hoành,
Mộ kiến Ngô sơn tung.
Ngô sơn cố đa thái,
Chuyển chiết vị quân dung.
U nhân khởi chu các,
Không động cánh vô vật.
Duy hữu Thiên Bộ cương,
Đông tây tác liêm ngạch.
Xuân lai cố quốc quy vô kỳ,
Nhân ngôn thu bi xuân cánh bi.
Dĩ phiếm Bình Hồ tư Trạc Cẩm,
Cánh khan Hoành Thuý ức Nga Mi.
Điêu lan năng đắc kỷ thời hảo,
Bất độc bằng lan nhân dị lão.
Bách niên hưng phế cánh kham ai,
Huyền tri thảo mãng hoá trì đài.
Du nhân tầm ngã cựu du xứ,
Đãn mịch Ngô sơn hoành quá lai.

Dịch nghĩa
Buổi sáng thấy núi Ngô nằm ngang
Buổi chiều thấy núi Ngô đứng thẳng
Núi Ngô vốn có nhiều vẻ
Vì bác mà luôn thay đổi hình dáng
Người nhàn nhã đứng trên gác tía
Không có vật gì càng thoáng đãng
Chỉ có mỗi đời Thiên Bộ
Vật làm chiêu bài, biển hiệu
Mùa xuân sang ngày về quê không hẹn
Người ta nói thu buồn xuân lại càng buồn hơn
Bởi thuyền trên Bình Hồ nhớ sông Trạc Cẩm
Ngắm góc Hoành Thuý nhớ núi Nga Mi
Lan can chạm hoa còn đẹp được bao lâu
Chẳng riêng gì người tựa lan can chóng già
Trăm năm việc hứng phế càng đáng buồn
Rồi đây nơi ao đài lại hoá thành cỏ rậm
Du khách muốn tìm nơi ta từng đến chơi
Thì hãy nhìn núi Ngô nằm ngang đấy

Phục Ba tướng quân miếu bi

伏波將軍廟碑
至險莫測海與風,
至幽不仁此魚龍,
至信可恃漢兩公,
寄命一葉萬仞中。
自此而南洗汝胸,
撫循民夷必清通。
自此而北端汝躬,
屈信窮達常正忠。
生為人英沒愈雄,
神雖無言意我同。

Phục Ba tướng quân miếu bi
Chí hiểm mạc trắc hải dữ phong,
Chí u bất nhân thử ngư long,
Chí tín khả thị hán lưỡng công,
Ký mệnh nhất diệp vạn nhận trung.
Tự thử nhi nam tẩy nhữ hung,
Phủ tuần dân di tất thanh thông.
Tự thử nhi bắc đoan nhữ cung,
Quật tín cùng đạt thường chính trung.
Sinh vị nhân anh một dũ hùng,
Thần tuy vô ngôn ý ngã đồng.

Quá Vĩnh Lạc Văn trưởng lão dĩ tốt

過永樂文長老已卒
初驚鶴瘦不可識,
旋覺雲歸無處尋。
三過門間老病死,
一彈指頃去來今。
存亡慣見渾無淚,
鄉井難忘尚有心。
欲向錢塘訪圓澤,
葛洪川畔待秋深。

Quá Vĩnh Lạc Văn trưởng lão dĩ tốt
Sơ kinh hạc sấu bất khả thức,
Toàn giác vân quy vô xứ tầm.
Tam quá môn gian lão bệnh tử,
Nhất đàn chỉ khoảnh khứ lai kim.
Tồn vong quán kiến hỗn vô lệ,
Hương tỉnh nan vong thượng hữu tâm.
Dục hướng Tiền Đường phỏng Viên Trạch,
Cát Hồng xuyên bạn đãi thu thâm.

Dịch nghĩa
Ban đầu, sửng sốt vì cánh hạc đã hao gầy mà không hay,
Nhưng vừa tỉnh cơn sửng sốt, thì cụm mây trời đã bay về nơi không vết tích.
Người đời có ba cửa ải: già, bệnh và chết,
Cuộc đời thoảng trong một cái búng tay là đủ cả cái đã qua, cái đang đó và cái sẽ đến.
Chuyện mất còn nhìn đã quen, nên nước mắt ráo quạnh,
Nhưng cái tình hương lý khó nguôi được trong lòng.
Tôi muốn đến Tiền Đường hỏi thăm Viên Trạch,
Tiên Cát Hồng đứng bên bờ suối đợi cái thu già.

Quy Nghi Hưng lưu đề Trúc Tây tự tam thủ kỳ 3

歸宜興留題竹西寺三首其三
此身已覺都無事,
今歲仍逢大有年。
山寺歸來聞好語,
野花啼鳥亦欣然。

Quy Nghi Hưng lưu đề Trúc Tây tự tam thủ kỳ 3
Thử thân dĩ giác đô vô sự,
Kim tuế nhưng phùng đại hữu niên.
Sơn tự quy lai văn hảo ngữ,
Dã hoa đề điểu diệc hân nhiên

Quỹ tuế

饋歲
農功各已收,
歲事得相佐。
為歡恐無具,
假物不論貨。
山川隨出產,
貧富稱小大。
寘盤巨鯉橫,
發籠雙兔臥。
富人事華靡,
綵繡光翻座。
貧者愧不能,
微摯出舂磨。
官居故人少,
里巷佳節過。
亦欲舉鄉風,
獨倡無人和。

Quỹ tuế
Nông công các dĩ thu,
Tuế sự đắc tương tá.
Vi hoan khủng vô cụ,
Giả vật bất luận hoá.
Sơn xuyên tuỳ xuất sản,
Bần phú xưng tiểu đại.
Trí bàn cự lý hoành,
Phát lung song thố ngoạ.
Phú nhân sự hoa mị,
Thái tú quang phiên toạ.
Bần giả quý bất năng,
Vi chí xuất thung ma.
Quan cư cố nhân thiểu,
Lý hạng giai tiết qua (quá).
Diệc dục cử hương phong,
Độc xướng vô nhân hoà (hoạ).

Sằn lão tập Thiên Khánh quán tiểu viên hữu đình bắc hướng đạo sĩ Sơn Tông thuyết khất danh dữ thi

莘老葺天慶觀小園有亭北向道士山宗說乞名與詩
春風欲動北風微,
歸雁亭邊送雁歸。
蜀客南遊家最遠,
吳山寒盡雪先晞。
扁舟去後花絮亂,
五馬來時賓従非。
惟有道人應不忘,
抱琴無語立斜暉。

Sằn lão tập Thiên Khánh quán tiểu viên hữu đình bắc hướng đạo sĩ Sơn Tông thuyết khất danh dữ thi
Xuân phong dục động bắc phong vi,
Quy Nhạn Đình biên tống nhạn quy.
Thục khách nam du gia tối viễn,
Ngô sơn hàn tận tuyết tiên hi.
Biển chu khứ hậu hoa nhứ loạn,
Ngũ mã lai thì tân tòng phi.
Duy hữu đạo nhân ưng bất vọng,
Bão cầm vô ngữ lập tà huy

Sơ đáo Hàng Châu ký Tử Do nhị tuyệt kỳ 1

初到杭州寄子由二絕其一
眼看時事力難勝,
貪戀君恩退未能。
遲鈍終須投劾去,
使君何日換聾丞。

Sơ đáo Hàng Châu ký Tử Do nhị tuyệt kỳ 1
Nhãn khan thì sự lực nan thăng,
Tham luyến quân ân thoái vị năng.
Trì độn chung tu đầu hặc khứ,
Sử quân hà nhật hoán lung thừa.

Sơ đáo Hoàng Châu

初到黃州
自笑平生為口忙,
老來事業轉荒唐。
長江繞郭知魚美,
好竹連山覺筍香。
逐客不妨員外置,
詩人例作水曹郎。
隻慚無補絲毫事,
尚費官家壓酒囊。

Sơ đáo Hoàng Châu
Tự tiếu bình sinh vị khẩu mang,
Lão lai sự nghiệp chuyển hoang đường.
Trường giang nhiễu quách tri ngư mỹ,
Hảo trúc liên sơn giác duẩn hương.
Trục khách bất phương viên ngoại trí,
Thi nhân lệ tác thuỷ tào lang.
Chỉ tâm vô bổ ty hào sự,
Thượng phí quan gia áp tửu nang.

Sơ nhập Lư sơn kỳ 1

初入廬山首一
青山若無素,
偃蹇不相親。
要識廬山面,
他年是故人。

Sơ nhập Lư sơn kỳ 1
Thanh sơn nhược vô tố,
Yển kiển bất tương thân.
Yếu thức Lư sơn diện,
Tha niên thị cố nhân.

Sơ tự Kính Sơn quy Thuật Cổ triệu ẩm Giới Đình dĩ bệnh tiên khởi

初自徑山歸述古召飲介亭以病先起
西風初作十分涼,
喜見新橙透甲香。
遲暮賞心驚節物,
登臨病眼怯秋光。
慣眠處士雲庵里,
倦醉佳人錦瑟旁。
猶有夢迴清興在,
臥聞歸路樂聲長。

Sơ tự Kính Sơn quy Thuật Cổ triệu ẩm Giới Đình dĩ bệnh tiên khởi
Tây phong sơ tác thập phân lương,
Hỉ kiến tân tranh thấu giáp hương.
Trì mộ thưởng tâm kinh tiết vật,
Đăng lâm bệnh nhãn khiếp thu quang.
Quán miên xử sĩ vân am lý,
Quyện tuý giai nhân cẩm sắt bàng.
Do hữu mộng hồi thanh hứng tại,
Ngoạ văn quy lộ nhạc thanh trường.

Trên đây là những bài thơ Tô Đông Pha viết trong tập Thi đặc sắc. Ở đó ta cảm nhận được một hồn thơ rất riêng. Và đó cũng chính là lý do giải thích tại sao văn nhân đương thời rất coi trọng ông và cũng xem ông như là người nối gót của Âu Dương Tu trên văn đàn. Đừng quên đón đọc những bài viết tiếp theo của chúng tôi để cùng cập nhật những bài thơ hay nhất bạn nhé!

Tagged: